Ở xã hội dân số già, người trẻ gặp khó khăn về kinh tế mà còn mang áp lực về tinh thần và thực hiện nghĩa vụ chăm lo người cao tuổi.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đang bước vào tình trạng dân số già với tốc độ ngày càng nhanh, kéo theo hàng loại chuyển biến về cơ cấu kinh tế và tác động lớn đến cuộc sống, tâm lý của thế hệ trẻ.
1. Dân số già là gì?
Dân số già là tình trạng những người độ tuổi từ 65 trở lên chiếm từ 7 – 14% (tuỳ vào tiêu chuẩn), tuổi thọ trung bình của người dân tăng nhưng tỷ lệ sinh lại giảm trong thời gian dài. Quá trình này tạo ra nhiều tác động sâu rộng đến xã hội, đặc biệt là về kinh tế, lao động và an sinh. Khi dân số già hóa, lực lượng lao động trẻ bị thu hẹp, làm giảm năng suất và tạo áp lực lên tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, chi phí cho y tế, hưu trí và chăm sóc người cao tuổi gia tăng, đặt gánh nặng lớn lên ngân sách nhà nước và gia đình.
2. Áp lực của người trẻ phải ở xã hội dân số già
Dân số già không chỉ gây áp lực lên các chính sách hay nền kinh tế của một nước mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ trẻ, độ tuổi đang là thành phần trụ cột của gia đình và phần quan trọng của đất nước.
2.1 Căng thẳng và kiệt sức
Việc chăm sóc người lớn tuổi dễ gây ra tình trạng căng thẳng kéo dài vì phải đối mặt với sự thay đổi tâm tính, áp lực khi thấy tình trạng sức khoẻ của người thân có sự thay đổi, kèm theo đó là mất ngủ, ăn uống thất thường do cần chăm sóc và theo dõi người cao tuổi. Tuy nhiên, họ không có thời gian để nghỉ ngơi và luyện tập tạo nên tình trạng sức khoẻ kém, dễ xuất hiện các bệnh mãn tính. Việc chăm sóc người lớn tuổi cũng đòi hỏi về sức lực, khi cần nâng đỡ hay di chuyển dễ gây chấn thương và xuất hiện các bệnh mãn tính.
2.2 Cảm giác tội lỗi và hy sinh
Ở xã hội có dân số già, người trẻ trong gia đình gánh vác nhiều trọng trách, vừa muốn chăm sóc người già, nhưng cũng muốn chu toàn cho gia đình nhỏ của mình, hoặc vừa muốn phát triển sự nghiệp riêng mà lòng vẫn canh cánh chuyện chăm sóc người lớn tuổi.
Trách nhiệm có nhiều nhưng khả năng đảm bảo thực hiện được chỉ có một, nên việc không làm tốt cả 2 tạo ra cảm giác tội lỗi sâu sắc. Sau cùng, thứ mà họ có thể hy sinh để cân bằng được là bản thân mình, bỏ đi những ước mơ, cơ hội để ở cạnh phụng dưỡng cha mẹ và ông bà, đánh đổi gia đình nhỏ để lấy gia đình lớn của mình.

2.3 Cô đơn và thiếu hỗ trợ xã hội
Nếu những vài chục năm trước đây, mỗi gia đình thường có xu hướng sinh trên 2 con, thậm chí nhiều gia đình có số con đạt con số 5 đến 6 người con. Số lượng con cái trong gia đình càng nhiều thì trách nhiệm về chăm lo hay giải quyết các vấn đề càng được chia nhỏ, chẳng hạn như việc chăm sóc cha (mẹ) đau ốm, ở gia đình đông con, việc này có thể được chia ra hay phân công tùy vào tính chất công việc mỗi người, nhưng nếu chỉ có 1 người con trong gia đình, thì người con đó gánh lấy toàn bộ trách nhiệm.
Từ ví dụ, ta thấy được sự cô đơn của thế hệ trẻ trong tình trạng dân số già, đó là sự bơ vơ, lẻ loi. Bên cạnh việc kiếm tiền, chăm lo cho gia đình, họ hầu như đã hết thời gian để duy trì các mối quan hệ xã hội khác, các lời mời hay cuộc vui khó lòng chen chân vào quỹ thời gian ít ỏi.
Lời từ chối được lặp lại nhiều lần, họ sẽ dần rời xa cộng đồng, khó tham gia vào các cuộc trò chuyện và sự kiện tạo ra cảm giác cảm giác lạc lõng và cô đơn, lâu dần tạo ra tâm lý thu rút, mặc cảm. Vào lúc này thế hệ trẻ thế hệ trẻ cần có sự hỗ trợ tinh thần và chia sẻ gánh nặng, các biện pháp hay chính sách về an sinh là cực kì cần thiết.
2.4 Lo lắng về tương lai
Những thực trạng của xã hội dân số già làm cho người trẻ thấy được nguy cơ về tương lai, họ lo lắng về hệ thống hưu trí quá tải, dẫn đến thiếu nguồn nhân lực trẻ để chăm sóc mình khi về già, hoặc các chi phí chăm sóc sẽ tăng lên, khiến họ lo lắng về điều kiện tài chính sau này. Một người con trong gia đình có trách nhiệm lo lắng cho cha mẹ khi về già gây áp lực về kinh tế, không đủ tiền tiết kiệm để vì lo cho thế hệ trước, nhưng cũng không đủ tài chính để sinh nhiều con để chăm sóc cho mình sau này.
Vì mãi cuốn theo việc kiếm tiền hoặc phụng dưỡng làm trì hoàn các mốc quan trọng, kết hôn và sinh con muộn hay không sinh, lùi lại thời gian mua nhà, tất cả đều ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc cá nhân, dân số già đã tác động lên sự lo lắng về tương lai của giới trẻ.
2.5 Xung đột thế hệ
Hiện nay, các gia đình thường có xu hướng sinh con trễ hơn so với trước đây, nếu như vào những năm 1960, khoảng cách giữa ba mẹ và con thường là 20 năm, nhưng đến nay con số này đã tăng lên 30 – 35 năm cho lứa con đầu và có thể tăng đến 35 – 40 cho lứa con sau. Điều đó dẫn đến việc khoảng cách thế hệ ngày càng xa và ở xã hội không ngừng tiến bộ, thông tin cập nhật liên tục khiến cho cách nhìn nhận của thế hệ dần bước vào an dưỡng và thế hệ học hỏi càng trở nên bất đồng.
Khi người trẻ cảm thấy việc quyết định nghỉ việc tại nơi vì cảm thấy quá áp lực và tìm kiếm cơ hội tốt hơn, nhưng thế hệ trước lại nghĩ đây là quyết định bồng bột và thiếu kiên nhẫn, không chịu khó. Theo thời gian, sự bất đồng ấy sẽ tăng lên gây ra căng thẳng lên cả hai thế hệ, nếu như phải sống chung hay phụ thuộc kinh tế lẫn nhau lại càng gây ra nhiều khó khăn.
2.6 Thiếu chăm sóc cho bản thân
Dân số già còn có thể khiến cho người trẻ có những áp lực về tinh thần và thể chất vì thiếu đi sự chăm sóc bản thân. Họ làm việc quá sức, dành trọn tâm trí của mình cho việc kiếm tiền và chăm sóc người lớn tuổi, thiếu thời gian nghỉ ngơi và phục hồi, khiến cho cơ thể kiệt sức cả thể chất lẫn tinh thần.
Bên cạnh đó, nếu người trong gia đình có vấn đề sức khỏe thì người trẻ sẽ lo lắng về tài chính, tình trạng của người thân, những diễn biến ở tương lai, tất cả tạo ra tình trạng căng thẳng rất dễ dẫn đến mất ngủ, lo âu, suy nhược cơ thể.

2.7 Kỳ vọng xã hội và văn hoá.
Ở nền văn hoá Châu Á, trong đó bao gồm cả Việt Nam, đạo hiếu được xem giá trị quan trọng (gốc của trăm hạnh) và không chỉ là văn hoá đạo đức mà còn là nghĩa vụ mà bất cứ người con nào trong gia đình cũng phải thực hiện. Ơn nghĩa sinh thành, nuôi nấng và giáo dưỡng con cái của cha mẹ là “món nợ” vô hạn mà con cái cần đáp trả suốt đời.
Từ vai trò là người con trong gia đình, một người được đánh giá là tốt hay xấu phụ thuộc vào họ có đạo hiếu với đấng sinh thành hay không. Đạo hiếu là thước đo quan trọng nhất trong đạo đức truyền thống, điều đó dẫn đến tâm lý người trẻ luôn phải ưu tiên việc phụ dưỡng, chăm sóc người già trên các mong muốn cá nhân.
Nếu như ở các nước phát triển, người cao tuổi vào viện dưỡng lão được xem là một giải pháp phổ biến và thực tế thì ở các nước Châu Á lại là điều đáng xấu hổ, cha mẹ cảm thấy mất mặt và dễ có tâm lý oán trách, con cái dễ bị dè bỉu, bàn tán. Điều này gây khó khăn gấp bội lên người trẻ ở xã hội dân số già hoá, khi họ cần đến sự hỗ trợ, nhưng lại gặp khó khăn vì không thể sử dụng những nguồn lực đó.
Câu nói “Đông con nhiều phúc” thể hiện góc nhìn của nhiều người thế hệ trước về một gia đình đông đúc, sum vầy, cũng là lời nhắc nhở với người trẻ chuyện sinh thêm con cháu. Tuy nhiên, ở tình trạng dân số già, gánh nặng về nghĩa vụ và áp lực tài chính khiến cho họ dần mệt mỏi, với mỗi lần “gợi ý” như vậy, dễ gây tâm lý hoang mang, mâu thuẫn trong dự tính cá nhân, phân vân giữa lựa chọn giữa sinh thêm con hay bảo toàn tài chính để dự phòng rủi ro.
Tình trạng dân số già không chỉ là những con số thống kê mà là một thực trạng đang diễn ra ảnh hưởng đến từng cá nhân, gia đình và xã hội. Giải pháp cho ảnh hưởng của dân số già không nằm ở việc ép buộc thế hệ trẻ gánh thêm, mà nằm ở việc xây dựng một xã hội nơi mà cả người già và người trẻ đều có thể sống với phẩm giá, nơi mà trách nhiệm chăm sóc được chia sẻ công bằng giữa gia đình, cộng đồng và nhà nước, nơi mà không ai phải lựa chọn giữa yêu thương cha mẹ và sống cuộc đời của chính mình.

